Hỉ Xả Là Gì: Giải Mã Tứ Vô Lượng Tâm Trong Phật Giáo

Trong cuộc sống hiện đại đầy biến động, việc tìm kiếm sự bình an nội tại trở thành một khát vọng lớn. Phật giáo, với giáo lý sâu sắc, đã chỉ ra con đường đến với an lạc thông qua việc tu tập Tứ Vô Lượng Tâm, trong đó hỉ xả là gì đóng vai trò vô cùng quan trọng. Đây không chỉ là những khái niệm triết học mà còn là kim chỉ nam cho một lối sống thiện lành, hướng thiện.

Tứ Vô Lượng Tâm: Nền Tảng của Đạo Phật

Đức Phật đã khuyên dạy chúng sinh hãy chăm tu tập “Tứ Vô Lượng Tâm”, tức là bốn món tâm rộng lớn không lường được, bao gồm Từ, Bi, Hỷ, và Xả. Ngài dạy hãy mở rộng bốn tâm này, không hạn chế, cho tất cả các loài hữu tình ở khắp bốn phương. Đây là những đặc tính giúp con người trở nên tốt đẹp, hoàn thiện, là lối sống của bậc thánh. Đạo Phật thường được gọi là đạo từ bi, đạo cứu khổ. Ở đâu có Đạo Phật, ở đó có tình thương. Người Phật tử lấy từ, bi, hỷ, xả làm nền tảng cho sự phát triển thánh hạnh; tâm từ bi được coi là tâm Phật.

Tâm “Từ” là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân, cho người khác. Tâm “Bi” là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang có mặt. Tâm “Hỷ” là niềm vui, lòng thanh thản do từ bi đem tới. Cuối cùng, tâm Xả là sự thư thái nhẹ nhàng, tự do, không kỳ thị. Bốn món tâm rộng lớn không lường được này, nếu của Phật và các vị Bồ tát thì được xưng là “Đại từ, Đại bi, Đại hỷ, Đại xả”, thể hiện một tầm vóc và phạm vi thực hành vô cùng lớn lao.

Tâm Từ: Nguồn Suối Yêu Thương Vô Điều Kiện

Tâm Từ là lòng lành giúp ích cho người, lòng thương yêu, thường đem vui cho tất cả chúng sinh. “Tâm từ” là cái gì làm cho lòng êm dịu, là lòng mong ước cho tất cả chúng sinh đều được an lành vui vẻ, lòng chân thành của người bạn hiền muốn cho bằng hữu mình được an vui hạnh phúc. Ngược lại với tâm từ là lòng “sân hận”. Tâm từ không phải là sự yêu thương thiên về xác thịt, về tình dục, cũng không phải là lòng trìu mến vị kỷ, lòng luyến ái đối với người nào.

Tâm từ không phân biệt kẻ thân người sơ, không dành riêng cho tình đồng chí, đồng chủng, cũng không dành riêng cho tình đồng hương hay đồng đạo. Hơn nữa, tâm từ không phải chỉ nên có giữa người và người mà phải bao trùm tất cả chúng sinh, bởi vì loài cầm thú cũng cần đến sự giúp đỡ và tình thương. Trong kinh Phật, có nhiều câu chuyện minh họa về sức mạnh của tâm từ bi, giúp hóa giải mọi oán thù và mang lại hòa bình.

Đức Phật dạy chỉ có tâm từ mới dập tắt được lòng sân hận, ác ý, thù oán. Không những dập tắt được lòng sân, tâm từ còn diệt được các mầm tư tưởng bất thiện. Nhìn thái độ của loài người đối với hận thù, Đức Phật đưa ra nhận xét là tình thương sẽ chinh phục được lòng sân hận. Để giảng hòa một cuộc tranh chấp giữa hai tiểu bang đang giành nhau nước dưới con sông làm ranh giới, Đức Phật dạy: “Ở ngay giữa đám nhân sinh, Dù người hờn oán, nếu mình thảnh thơi, Sống không thù hận cùng người, Thật là sung sướng, cuộc đời thơm hương.” (Pháp Cú 197).

Tuy nhiên, có lòng từ ái đối với người khác không có nghĩa là phải quên mình. Lúc Đức Phật sắp nhập Niết Bàn, các đệ tử từ bốn phương xa gần tấp nập về đảnh lễ Ngài. Chỉ có một thầy Tỳ kheo lại rút về tịnh thất chuyên cần hành thiền. Khi được hỏi về thái độ ấy, thầy trả lời vì trong ba tháng nữa Đức Phật sẽ nhập diệt nên thầy nghĩ rằng để tỏ lòng quý trọng Ngài, việc làm tốt đẹp nhất là thành tựu đạo quả A La Hán lúc Ngài còn tại tiền. Đức Phật ngợi khen thầy và nhấn mạnh là “Không nên vì mục tiêu của người khác mà lãng quên mục tiêu, sự an lành của chính mình.” và hãy “lập tâm thành đạt mục tiêu ấy”: “Chớ vì lợi ích cho người, Mà quên lợi ích cho nơi chính mình, Mục tiêu giải thoát tử sinh, Ai lo lợi ích cho mình chớ quên, Quyết tâm đạt được cho bền.” (Pháp Cú 166). Điều này không phải là sự ích kỷ, mà là nhận thức rằng chỉ khi mình vững vàng, mình mới có thể thực sự giúp đỡ người khác một cách hiệu quả.

Tâm Bi: Lòng Trắc Ẩn Giúp Cứu Khổ

Tâm Bi là lòng thương xót cứu khổ, thương dứt trừ đau khổ cho hết thảy chúng sinh. Bi là động lực làm cho tâm rung động trước sự đau khổ của kẻ khác. Đặc tính của “tâm bi” là ý muốn giúp người khác thoát khỏi cảnh khổ. Tâm bi là vị thuốc có thể tiêu trừ bệnh hung bạo. Lòng của người có tâm bi thật là mềm dịu. Lắm khi người có tâm bi không ngần ngại hy sinh đến cả tính mạng. Chính do nơi tâm bi mà con người có thể hoàn toàn vị tha trong khi phục vụ kẻ khác, giúp mà không bao giờ mong đến ơn, đáp nghĩa.

Đối tượng của tâm bi là những kẻ nghèo đói, túng thiếu, đau ốm, cô đơn dốt nát, hư hèn và cả những người có đời sống buông lung, phóng đãng tội lỗi. Tâm bi phải bao trùm tất cả chúng sinh đau khổ, rất bao la và bình đẳng. Như Đức Phật xưa kia đã từng tế độ cho một người phụ nữ lạc bước giang hồ và cho cả một tên sát nhân tàn ác, toan hại Ngài. Về sau, cả hai đều theo Ngài và hoàn toàn đổi tính. Bên trong mỗi người, dù xấu xa thế nào cũng ngầm có những tính tốt. Đôi khi chỉ có lời nói phải, đúng lúc, cũng có thể làm đổi hẳn con người.

Ví như vua A Dục ngày xưa, tàn bạo đến nỗi, người đời bấy giờ gọi là “A Dục, con người tội lỗi”. Thế mà, khi nghe được lời nói phải của một thầy Sa di trẻ tuổi, ông đổi hẳn lại tính tình, mạnh tiến trên con đường tự giác và trở thành “A Dục, con người hiền đức”. Ta nên nhận định rằng, tâm bi của Phật giáo không phải là giọt nước mắt nhỏ suông gọi là thương xót. Kẻ thù gián tiếp của tâm bi là “âu sầu, phiền não”.

Tâm Từ và Tâm Bi thường đi chung với nhau. Trước hết phải dùng tâm bi để trừ giùm đau khổ cho chúng sinh, rồi kế đó dùng tâm từ mà cho họ niềm vui. Như thế, cái vui mới được hoàn toàn. Vậy “bi” là nhân mà “từ” là quả. Người sống có tâm từ bi, có tình thương thì mọi hận thù trên thế gian này sẽ tiêu tan. Một câu chuyện điển hình trong Kinh Pháp Cú kể về việc hận thù trả qua trả lại giữa hai người phụ nữ trong hai kiếp sống liên tục. Đến kiếp tái sinh thứ ba, cơ hội đưa đẩy hai bà cùng đến gặp Đức Phật và sau đó nhờ Ngài khuyên giải mà hận thù được chấm dứt: “Khắp nơi trong cõi dương gian, Hận thù đâu thể xua tan hận thù, Chỉ tình thương với tâm từ, Làm tiêu oán hận, giải trừ hờn căm, Đó là định luật ngàn năm.” (Pháp Cú 5).

Tâm Hỷ: Niềm Vui Thanh Thản và Thùy Hỷ

Tâm Hỷ là lòng vui, tự mình vui và mừng giùm cho người được điều thiện. Hay muốn nói cho đủ là tùy hỷ: vui theo, cùng vui với người khác. Phản nghĩa của hỷ là “ưu phiền”. Hỷ không phải là trạng thái thỏa thích suông, cũng không phải là cảm tình riêng đối với một người nào. Hỷ là lòng cùng vui thích với người khác khi họ có hạnh phúc hay họ được thành công, nhất là khi sự thành công ấy tiến về nẻo thiện, hướng đến mục đích giải thoát. Lòng “ganh tị” là kẻ thù trực tiếp của hỷ. Nhiều người lấy làm bực tức khi thấy người khác thành công hay vui khi thấy người khác thất bại. Chính tâm hỷ làm tiêu tan lòng ganh tị đó.

Người có tâm hỷ sẽ trực tiếp hưởng nhiều lợi ích do tâm ấy đem lại cho mình hơn cả người khác. Nếu so sánh với tâm từ và tâm bi, tâm hỷ lại càng khó thực hiện. Muốn có tâm hỷ, phải có ý chí mạnh mẽ và hết sức cố gắng. Để tạo sự an vui, hạnh phúc trong đời sống cá nhân cũng như tập thể và vươn mình lên sống đời trong sạch, cao thượng, người Phật tử nên thực hành tâm hỷ.

Một Sa di, con của người gác cửa, nói xấu về tâm bố thí của tất cả các thiện tín đến chùa, từ đại thí chủ như ông Cấp Cô Độc đến vua Ba Tư Nặc, ngoại trừ những người có họ hàng với chú. Vài vị Sư khác bạch lại với Đức Phật về tác phong thấp hèn của chú Sa di, Đức Phật dạy “Người nào đem lòng khen chê, bất mãn và đố kỵ với những phẩm vật bố thí thì tâm người ấy chưa được an tịnh. Người bỏ được tính đố kỵ, ganh ghét và không so đo hơn thua thì tâm lúc nào cũng an tịnh”: “Do lòng tin, bởi niềm vui, Người người bố thí, nơi nơi cúng dường, Kẻ mà tâm xấu buông lung, Thấy ai được hưởng, trong lòng ghét ganh, Ngày đêm sẽ mãi quẩn quanh, Không hề an tịnh tâm mình được lâu.” (Pháp Cú 249). “Chỉ riêng người hiểu pháp mầu, Nên lòng ganh ghét trước sau diệt trừ, Ngày đêm hương đạo thơm đưa, Cõi lòng an tịnh, tâm tư thanh nhàn.” (Pháp Cú 250).

Tâm Xả: Buông Bỏ Mọi Chấp Trước

“Xả” là lòng buông xả ra mọi vật của mình cho tất cả chúng sinh không phân biệt kẻ oán người thân. Xả là bố thí, bỏ đi, không chấp, không ghi giữ trong lòng. Xả là trông thấy đúng đắn, nhận định chân chính, suy luận vô tư, tức là không ghét bỏ cũng không luyến ái; không ưa thích cũng không bất mãn. Phản nghĩa của “tâm xả” là “cố chấp”. Hỉ xả là gì thường được hiểu là sự kết hợp giữa niềm vui thanh tịnh và khả năng buông bỏ.

Người cao thượng luôn giữ tâm bình thản trước sự khinh rẻ, phỉ báng, nguyền rủa. Giữa cuộc thăng trầm của thế gian đó, Đức Phật dạy ta nên luôn bình thản, hành tâm xả, vững chắc như tảng đá sừng sững giữa trời, vững như voi, như mãnh hổ. Ví như gió thổi ngang màn lưới mà không bị vướng trong lưới, tuy sống giữa chợ người mà ta không luyến ái những lạc thú hão huyền và vô thường của cuộc đời.

Tầm quan trọng của hỉ xả trong việc tìm thấy sự bình an nội tạiTầm quan trọng của hỉ xả trong việc tìm thấy sự bình an nội tại

Như hoa sen từ bùn nhơ nước đục vươn lên, chúng ta cũng vượt lên bao nhiêu quyến rũ của thế gian để sống trong sạch, tinh khiết, luôn luôn bình tĩnh và an vui. Kẻ thù trực tiếp của xả là “luyến ái” và kẻ thù gián tiếp của tâm xả là sự “lãnh đạm”. Tâm xả lánh xa lòng tham ái và trạng thái bất mãn. Thái độ vô tư, thản nhiên, an tịnh là đặc tính quan trọng của tâm xả. Người có tâm xả không thích thú trong vui sướng cũng không bực tức trong phiền não. Người có tâm xả đối xử đồng đều giữa kẻ tội lỗi và bậc thánh nhân. Đức Phật luôn khen ngợi, khuyến khích hàng đệ tử thực hành tâm xả.

Các Loại Xả và Tầm Quan Trọng Trong Đời Sống

“Xả” có bốn thứ. Nếu đem cho người ta đồ vật, của cải thì gọi là “tài xả”. Đây là hành động bố thí vật chất, giúp đỡ người khác về mặt tài chính hoặc nhu yếu phẩm. Nếu đem giáo pháp, giáo lý cho người thì gọi là “pháp xả”. Đây là việc chia sẻ tri thức, sự hiểu biết về Phật pháp, giúp người khác giác ngộ. Nếu đem đức không sợ hãi cho người thì gọi là “vô úy xả”. Hành động này thể hiện sự che chở, bảo vệ người yếu thế khỏi sợ hãi, hiểm nguy. Còn tự mình xả bỏ tất cả các mối phiền não thì gọi là “phiền não xả”. Loại xả này là cốt lõi của tâm xả, giúp giải thoát bản thân khỏi những ràng buộc nội tâm.

Một Tỳ kheo có thói xấu hay moi móc lỗi lầm của người khác để chê bai. Đức Phật dạy “Nếu có ai nói rõ lỗi lầm của người khác và chỉ dạy cho họ cách sửa chữa lại thì đó chẳng phải là một hành động xấu ác đáng chê trách. Trái lại nếu có kẻ nào luôn luôn chỉ trích chỗ sai lầm của người khác với ý định hiểm độc để nói xấu thì những người như thế không bao giờ đạt được giác ngộ mà chỉ có sự ô nhiễm tăng trưởng trong họ mà thôi”: “Nếu ta thấy được lỗi người, Tâm ta nóng giận tức thời dễ sinh, Tăng thêm phiền não thật nhanh, Xa lìa an tịnh, quẩn quanh muộn sầu, Lỗi người chẳng để tâm lâu, Còn chi sầu muộn, còn đâu não phiền.” (Pháp Cú 253).

Một câu chuyện khác kể về việc vài thầy Sa di không biết nên theo phá khuấy một vị A La Hán khả kính vì thân hình ngài nhỏ bé thấp lùn. Khi được biết vị thánh tăng tính tình hiền hòa, chẳng hề tức giận, vẻ mặt luôn bình thản, không chút xao động, Đức Phật dạy rằng chư vị A La Hán giữ mình luôn luôn bình thản trước những lời tán dương hay khiển trách: “Gió nào lay núi đá cao, Và người trí lớn khác nào núi kia, Tiếng đời trần tục khen chê, Tán dương, phỉ báng, dễ gì động tâm.” (Pháp Cú 81). Điều này nhấn mạnh sự vững vàng của tâm xả trước mọi thị phi, biến động của thế gian.

Thực Hành Hỉ Xả Trong Cuộc Sống Hiện Đại

Trong bối cảnh xã hội ngày càng phức tạp, việc thực hành hỉ xả trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Hỉ xả không chỉ là sự buông bỏ vật chất mà còn là buông bỏ những chấp niệm, oán hận, ganh tị trong tâm. Khi chúng ta thực hành tùy hỷ, tức là vui mừng trước thành công và hạnh phúc của người khác, chúng ta đã gieo mầm cho sự an lạc trong chính mình. Ngược lại, sự ganh ghét, đố kỵ chỉ mang lại phiền não và khổ đau.

Việc buông xả những kỳ vọng không thực tế, những ám ảnh về quá khứ hay lo lắng về tương lai cũng là một khía cạnh quan trọng của tâm xả. Điều này giúp chúng ta sống trọn vẹn hơn trong hiện tại, giảm bớt áp lực và căng thẳng. Một người có khả năng buông bỏ những điều tiêu cực sẽ có một tâm hồn thanh thản và một cuộc sống nhẹ nhàng hơn. Đức Phật đã dạy rằng người thiện trí vượt lên trên mọi xúc động thường tình, không bao giờ bồng bột, cũng không bao giờ để tinh thần suy sụp, luôn bình tĩnh trước mọi việc xảy ra: “Người lành thường mãi lìa xa, Mọi điều dục lạc bỏ qua chẳng bàn, Người hiền trí gặp vui buồn, Dù đầy hạnh phúc, hay tràn khổ đau, Không hề dao động trước sau, Tinh thần luôn vững, há nào mừng lo.” (Pháp Cú 83).

Lợi Ích Của Việc Tu Tập Hỉ Xả

Tu tập hỉ xả mang lại nhiều lợi ích sâu sắc cho cá nhân và cộng đồng. Đối với cá nhân, nó giúp giảm căng thẳng, lo âu, và các cảm xúc tiêu cực như giận dữ, ghen tị. Khi thực hành buông xả, chúng ta giải phóng bản thân khỏi những gánh nặng không cần thiết, cho phép tâm trí trở nên thanh tịnh và an lạc hơn. Sự bình an nội tại này là nền tảng cho sức khỏe tinh thần và thể chất.

Trong các mối quan hệ, tâm hỉ xả thúc đẩy sự hòa hợp và lòng bao dung. Khi chúng ta có thể tùy hỷ với niềm vui của người khác và buông bỏ những định kiến, chấp trước, chúng ta xây dựng được những mối quan hệ chân thành và bền vững hơn. Điều này không chỉ giới hạn trong gia đình và bạn bè mà còn mở rộng ra cả cộng đồng, tạo nên một xã hội từ ái và vị tha. Đó là lý do vì sao sự bao dung và không chấp trước là những phẩm chất đáng quý.

Hỉ Xả và Mối Quan Hệ Với Từ Bi

Hỉ và Xả là hai hạnh lành, có tương quan mật thiết, làm nhân làm quả cho nhau. Xả làm nhân cho hỷ, nghĩa là muốn vui theo với người, muốn làm cho người vui, thì trước tiên mình phải đừng chấp, phải xả bỏ những điều ngang trái, những điều thiệt thòi sỉ nhục mà người khác đã làm cho ta.

Trong các truyện về “Tiền thân Đức Phật” ta thấy Ngài từng xả bỏ thân mạng mà cứu giúp chúng sinh. Khi được làm Bồ Tát trên cung trời Đâu Suất, Ngài xả bỏ các sự vui sướng nơi thiên cung mà giáng sinh cứu thế. Trước kia khi còn là một hoàng tử sắp lên ngôi vua, Ngài xả bỏ tất cả đền đài cung điện, châu báu ngọc ngà, vợ đẹp con khôn, quyền cao chức trọng để mà một thân một mình ra đi tu hành khắc khổ.

Người tu hành phải tập xả dần, xả tất cả. Con tằm sở dĩ thành bướm bay lượn đó đây, vì nó đã rời bỏ cái kén, dù đó là một cái kén bằng tơ vàng óng ánh, ấm áp, đẹp đẽ mịn màng vô cùng. Nhưng xả mà còn buồn rầu tiếc nuối cho cái mà mình đã bỏ đi thì xả như thế không có ích gì. Xả phải đi đôi với hỷ. Phải xả với vẻ mặt hân hoan, vui mừng như người tù khi tháo gỡ xiềng xích. Sự kết hợp giữa hỉ xả và từ bi tạo nên một bức tranh hoàn chỉnh về lòng vị tha và trí tuệ trong Phật giáo.

FAQs về Hỉ Xả

  1. Hỉ xả là gì theo quan điểm Phật giáo?
    Hỉ xả là gì trong Phật giáo là hai trong bốn vô lượng tâm (Từ, Bi, Hỷ, Xả). “Hỷ” là niềm vui thanh thản, tùy hỷ với niềm vui và thành công của người khác. “Xả” là lòng buông bỏ, không chấp trước, giữ tâm bình thản trước mọi thị phi, khen chê, được mất, không phân biệt oán thân.

  2. Tại sao hỉ xả lại quan trọng trong cuộc sống?
    Thực hành hỉ xả giúp chúng ta giải thoát khỏi phiền não, lo âu, giảm bớt căng thẳng và các cảm xúc tiêu cực như ghen tị, sân hận. Nó mang lại sự bình an nội tại, cải thiện các mối quan hệ và tạo ra một cuộc sống hòa hợp, an lạc hơn.

  3. Làm thế nào để thực hành tâm hỷ?
    Để thực hành tâm hỷ, bạn cần tập trung vào việc tùy hỷ, tức là vui mừng chân thành trước hạnh phúc, thành công và may mắn của người khác mà không có chút ganh tị nào. Điều này đòi hỏi sự luyện tập để chuyển hóa tâm lý từ so sánh, đố kỵ sang chúc phúc, sẻ chia.

  4. Làm thế nào để thực hành tâm xả?
    Thực hành tâm xả bao gồm việc buông bỏ những chấp niệm, kỳ vọng, oán hận, và những điều tiêu cực. Hãy tập chấp nhận mọi việc đến và đi một cách tự nhiên, giữ thái độ bình thản trước khen chê, được mất, và không phân biệt đối xử với bất kỳ ai.

  5. Hỉ xả có phải là thờ ơ, lãnh đạm không?
    Không, hỉ xả hoàn toàn khác với thờ ơ hay lãnh đạm. Thờ ơ là không quan tâm, không cảm xúc. Còn xả là sự buông bỏ dựa trên trí tuệ và lòng từ bi, một thái độ bình thản nhưng vẫn giữ được sự quan tâm, cảm thông sâu sắc. Nó là trạng thái an nhiên tự tại, không phải vô cảm.

  6. Xả có nghĩa là từ bỏ mọi thứ không?
    Xả không nhất thiết có nghĩa là từ bỏ mọi thứ vật chất. “Xả” ở đây chủ yếu là buông bỏ sự chấp trước, bám víu vào vật chất, danh vọng, cảm xúc, hay bất kỳ điều gì có thể gây ra khổ đau. Bạn vẫn có thể sở hữu tài sản hay đạt được thành công, nhưng không để chúng kiểm soát tâm trí mình.

  7. Mối liên hệ giữa hỉ xả và lòng từ bi là gì?
    Hỉ xả là sự phát triển tự nhiên của lòng từ bi. Khi bạn có lòng từ (mong muốn mang lại niềm vui) và bi (mong muốn loại bỏ khổ đau) cho chúng sinh, bạn sẽ dễ dàng tùy hỷ với niềm vui của họ (hỷ) và buông bỏ những thành kiến, chấp trước để đối xử bình đẳng với tất cả (xả).

  8. Hỉ xả có giúp tôi đối phó với những người khó tính không?
    Chắc chắn rồi. Khi bạn thực hành hỉ xả, bạn học cách buông bỏ sự phán xét và oán hận đối với những người làm phiền bạn. Thay vì phản ứng bằng sự tức giận, bạn có thể duy trì sự bình thản và lòng bao dung, giúp giảm thiểu xung đột và bảo vệ sự an lạc của chính mình.

  9. Có con số hay dữ liệu nào về lợi ích của hỉ xả không?
    Mặc dù khó định lượng chính xác bằng con số, các nghiên cứu tâm lý học đã chỉ ra rằng việc thực hành lòng biết ơn, tùy hỷ, và buông bỏ (các yếu tố của hỉ xả) có thể giảm mức độ căng thẳng lên đến 30%, tăng cảm giác hạnh phúc 25%, và cải thiện chất lượng giấc ngủ ở một tỷ lệ đáng kể người tham gia. Hơn 70% người thực hành thiền định và chánh niệm (thường bao gồm các yếu tố hỉ xả) báo cáo cảm thấy bình an hơn trong cuộc sống hàng ngày.

Trong cuộc sống luôn biến đổi, việc tu tập để hiểu hỉ xả là gì và thực hành Tứ Vô Lượng Tâm là con đường vững chắc để mỗi chúng ta tìm thấy sự bình an, hạnh phúc thực sự. Pháp Phục Nguyên Dung hy vọng rằng những chia sẻ này sẽ là nguồn động lực để bạn và mọi người cùng nhau vun đắp một tâm hồn rộng mở, từ bi và an lạc.